Những món ăn bổ máu

Posted in Món ăn bài thuốc with tags , , on 25/08/2009 by dichovui

Bệnh thiếu máu hay gặp ở trẻ em, trong đó có nguyên nhân do chế độ ăn uống, thiếu chất dinh dưỡng cần thiết cho sự tạo máu. Một số món ăn dưới đây theo lương y Bàng Cẩm (TPHCM) sẽ giúp cải thiện tình trạng thiếu máu ở trẻ:

* Cháo long nhãn – hạt sen:

Nguyên liệu: Long nhãn (50 gr), hạt sen (50 gr), gạo (100 gr).

Cách chế biến: Ba thứ trên cho chung vào nồi để nấu cháo, nêm nếm gia vị vừa ăn.

Công dụng: Kiện tỳ bổ khí, dưỡng huyết.

* Thịt bò xào với lá tỏi và mộc nhĩ:

Nguyên liệu: Mộc nhĩ (nấm mèo) 25 gr, lá tỏi (200 gr), thịt bò (300 gr), gừng (2 lát), cà rốt xắt thành sợi (một ít), rượu (một ít), nước tương, đường cát, bột năng (mỗi thứ nửa muỗng cà phê) và dầu mè, tiêu bột (mỗi thứ một ít).

Cách chế biến: Nấm mèo đem ngâm, rửa sạch và xắt thành sợi, cho vào nước sôi luộc sơ qua; lá tỏi bỏ phần cứng, rửa sạch xắt thành từng đoạn, rồi dùng dầu và muối xào sơ; thịt bò xắt thành từng sợi lớn, ướp gia vị khoảng 15 phút; bắt chảo lên bếp, cho dầu vào, khi dầu nóng thì lần lượt cho gừng lát, nấm mèo, cà rốt, thịt bò, lá tỏi và gia vị vào, xào sơ qua, sau cùng cho bột năng vào cho sền sệt thì được.

Công dụng: Bổ máu, dinh dưỡng dồi dào.

* Gan heo xào trứng gà và bó xôi:

Nguyên liệu: Gan heo (từ 50 – 100 gr), bó xôi (từ 30 – 50 gr), trứng gà (1 – 2 trứng), gốc hành (1 cái), gia vị lượng vừa đủ.

Cách chế biến:
Cho gan heo vào nước sôi luộc chín, vớt ra xắt thành dạng hạt lựu, sau đó cho trở lại vào chảo để xào lại, cho trứng, bó xôi, gốc hành, nêm nếm gia vị vừa ăn.

Công dụng: Dưỡng huyết.

* Gan heo nấu với đậu nành:

Nguyên liệu: Gan heo (50 gr), đậu nành (50 gr), muối vừa đủ.

Cách chế biến: Cho đậu nành vào nước lạnh ngâm cho mềm, rồi vớt ra cho vào nước nấu, nấu đến sôi thì cho gan heo vào, nêm nếm vừa ăn.

Công dụng: Ngoài việc bổ dưỡng, món này còn chứa nhiều chất sắt.

* Gan heo nấu nấm mèo đen:

Nguyên liệu: Nấm mèo đen (10 gr), gan heo (50 gr), muối, dầu vừa đủ.

Cách chế biến: Bẻ nấm mèo ra, rửa sạch, xắt thành miếng nhỏ rồi cho vào nước nấu, sau đó cho gan heo vào nấu cho đến chín, thêm hành, nêm nếm vừa ăn.

Công dụng: Món này giúp dưỡng máu.

* * *

Trẻ từ 1-3 tuổi cũng dễ có nguy cơ thiếu sắt và thiếu máu thiếu sắt. Hầu hết trẻ ở tuổi này không còn tiếp tục được bổ sung chất sắt và chúng cũng không ăn đủ thức ăn giàu chất sắt. Chúng cũng thường uống nhiều sữa bò hơn.

Ở những giai đoạn đầu của tuổi dậy thì, trẻ trai có nguy cơ bị thiếu máu thiếu sắt, nhưng trẻ gái còn gặp nguy cơ này nhiều hơn do hiện tượng kinh nguyệt khiến bị mất máu và mất đi một lượng sắt dự trữ. Một nguyên nhân khác nữa là nhiều trẻ gái có khuynh hướng ăn chế độ ăn ít chất sắt hơn.

Do đó nên cho trẻ ăn những thức ăn giàu sắt như thịt, cá, thịt gà, nho khô, trái cây sấy khô, khoai lang, rau, đậu lima, đậu chili, đậu xanh, bơ đậu phộng.

* * *

Theo lương y Vũ Quốc Trung (TP.HCM), thông thường, thiếu máu là do dinh dưỡng không đầy đủ (nhất là thiếu sắt), mất máu mãn tính hoặc có thể do cơ thể suy nhược. Biểu hiện của bệnh thiếu máu ngoài huyết sắc tố giảm, còn kèm theo hàng loạt triệu chứng như: nóng đầu, hoa mắt, ù tai, sắc mặt xanh xao, hay hoảng sợ, tim đập nhanh, ngủ không yên, mệt mỏi rã rời, móng tay lõm xuống dễ bị nứt nẻ, đầu óc không tập trung, ăn không ngon, nếu là nữ thì kinh nguyệt hay thất thường (chu kỳ kinh không đều).

Đông y cho rằng, điều trị bệnh thiếu máu, ngoài việc tăng cường dinh dưỡng và bổ máu, cần phải bắt đầu từ bổ thận, vì tinh hoa trong thận tạo ra máu. Nếu có bệnh xuất huyết mãn tính như xuất huyết nhiều lúc hành kinh, bệnh giun móc, xuất huyết vì loét dạ dày… phải kịp thời điều trị. Trước khi bồi bổ dinh dưỡng phải chú trọng điều chỉnh khả năng tiêu hóa và tiếp thu thức ăn của dạ dày. Ngoài những thực phẩm bổ máu như thịt cá, cần tăng cường vitamin C, và các chất diệp lục có trong các loại hoa quả và rau tươi có màu sắc như: quýt, cam, táo chua, đào, cà, hồng, rau cần, hạnh đào, nho, sữa ong chúa, nấm mèo đen…
Nếu bị bệnh dạ dày, không nên uống thuốc trị bệnh cùng lúc với thuốc bổ máu và bổ sắt.

Món ăn cho người bị thiếu máu:

*Chè đậu xanh – táo đỏ: Đậu xanh 50g, táo đỏ 50g, đường đen vừa đủ. Đậu xanh vo sạch, dùng nước lạnh ngâm 2 giờ, táo đỏ rửa sạch. Bắc nồi lên bếp, thêm nước, đổ đậu xanh và táo đỏ vào, nấu lửa nhỏ cho đến khi đậu nở, táo đỏ phình đầy, nêm đường đen thì dùng.

5 Loại thức ăn tốt nhất cho tim

Posted in 7. Ăn uống khoa học with tags , , on 02/08/2009 by dichovui

Trong các loại thực phẩm mà chúng ta sử dụng hằng ngày, có một số loại có khả năng giúp cơ thể phòng chống được một số bệnh tật như: tim mạch, ung thư… sau đây xin giới thiệu 5 loại thức ăn đã được các trung tâm nghiên cứu đánh giá cao về khả năng hỗ trợ phòng chống tim mạch, nhờ vào một số hoạt chất có trong nó.

Cây việt quất (blueberry)



Loại cây này không những ngon mà còn giàu chất chống oxy hóa. Các chuyên gia tin rằng: chất chống oxy hóa trong cây việt quất có tác dụng giảm lượng cholesterol xấu (LDL cholesterol) lắng đọng ở thành mạch máu. Đây là nguyên nhân gây ra bệnh tim mạch và tai biến mạch máu não. Những nghiên cứu của Trung tâm dinh dưỡng Hoa Kỳ, đã đưa đến việc xếp cây việt quất vào hàng số 1 về hoạt tính chống oxy hóa khi so sánh với 40 loại trái cây và rau tươi khác. Chất chống oxy hóa giúp trung hòa các chất độc hại của quá trình chuyển hóa (các gốc tự do). Các gốc tự do có thể dẫn đến bệnh ung thư hoặc những bệnh liên quan đến tuổi già. Anthocyamin, một chất oxy hóa được tìm thấy trong cây việt quất là một chất có tác dụng tốt nhất đối với sức khỏe. Anthocyamin còn tìm thấy trong cây mâm xôi (raspberry), nho đen (black currant), nho đỏ. Người ta khuyến cáo chỉ cần mỗi ngày ăn một cốc trái cây việt quất tươi là đủ.

Cá hồi (salmon)

cahoi
Cá hồi là một thực phẩm có nhiều tác dụng tốt cho sức khỏe, nó là một nguồn cung cấp tốt nhất “mỡ tốt” cho cơ thể. Mỡ tốt đó chính là acid béo omega-3. Ngoài cá hồi thì cá thu, cá trích, cá mòi cũng giàu acid béo omega-3. Mỡ này giúp làm giảm nguy cơ phát triển bệnh tim mạch, do nó làm giảm lượng triglyceride trong cơ thể, triglyceride là loại mỡ máu có liên quan đến bệnh tim mạch và đái tháo đường. Các nghiên cứu cho thấy, acide béo omega-3 ngăn sự tạo thành cục máu đông do sự kết dính tiểu cầu, tiểu cầu không kết dính và đóng lên thành động mạch được. Mạch máu cũng ít bị co thắt hơn và cũng ngăn chặn loạn nhịp tim gây đe dọa tính mạng. Hội tim mạch Hoa Kỳ khuyến cáo ăn cá ít nhất là 2 lần mỗi tuần (các loại cá như cá hồi).

Protein đậu nành

Ngoài việc dùng thức ăn giàu acid béo omega-3, protein, vitamin, khoáng chất thì cũng cần đến protein đậu nành, vì nó là một lựa chọn tốt hơn so với thịt đỏ (thịt động vật).

Nó cũng ít chất béo có hại và giàu chất xơ hơn bất kỳ loại thịt nào. Ở người có cholesterol máu cao, các nghiên cứu cho thấy protein đậu nành khi dùng với chế độ ăn ít mỡ sẽ làm giảm cholesterol. Có những nghiên cứu cho thấy, ăn một vài loại thức ăn giảm cholesterol sẽ làm hạ mức cholesterol máu nhiều hơn so với dùng thuốc. Cả Hội tim mạch Hoa Kỳ lẫn Cơ quan quản lý thuốc & thực phẩm Hoa Kỳ đều khuyến cáo dùng khoảng 30g protein đậu nành mỗi ngày. Có thể lấy protein đậu nành từ đậu nành, sữa đậu nành, đậu hủ, bột đậu nành…

Bột yến mạch (oatmeal)


Từ lâu, ở phương Tây người ta hay dùng bột yến mạch pha nóng mỗi sáng cho những người cần giữ giọng tốt. Chỉ cần nửa cốc yến mạch mỗi ngày thì không những được cung cấp năng lượng 130Kcal mà còn nhận được 5g chất xơ có lợi cho tim (giúp làm giảm cholesterol và giữ cho cân nặng cơ thể ở mức khỏe mạnh). Một tác dụng tốt khác là bột yến mạch dùng buổi sáng sẽ tạo cảm giác no đến buổi ăn trưa nên bạn sẽ giảm ăn vặt giữa buổi (ăn vặt là một trong những lý do tạo ra béo phì). Bột yến mạch và các loại hạt khác như: lúa mạch, lúa mì, gạo lức… giúp giảm nguy cơ bệnh đái tháo đường cũng như nguy cơ bệnh tim mạch. Có thể dùng gạo lức để thay thế bột yến mạch. Hội đái tháo đường Hoa Kỳ khuyến cáo lượng chất xơ hàng ngày là 21-38g tùy thuộc vào giới và tuổi.

Rau xanh

Các loại rau có màu xanh sậm cùng với cải xoăn, cải lá, bông cải… chứa một lượng cao vitamin, khoáng chất và chất chống oxy hóa mà nó có khả năng bảo vệ cơ thể chống lại bệnh lý tim mạch. Nó cũng cung cấp lượng acid béo omega-3. Rau xanh cũng giàu acid folic, là một chất giúp giảm homocysteine (một acid amin). Nguy cơ bệnh tim mạch tăng cao theo nồng độ homocysteine trong máu.

Người ta khuyến cáo nên ăn rau xanh mỗi ngày để phòng ngừa bệnh tim mạch.

BS. Bùi Minh Trạng

Theo SK&ĐS

Các bệnh về thận không nên ăn chuối tiêu

Posted in 6. Những điều kiêng kị trong ăn uống with tags , on 02/08/2009 by dichovui

Trong ăn uống, đồ ăn, thức uống có thể tốt với người này nhưng lại nguy hiểm đối với người khác. Để đảm bảo sức khỏe, cần nắm được một số lưu ý sau.

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Lâm, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, những người bị cao huyết áp, suy thận, viêm cầu thận, mỡ máu cao, thừa cân béo phì và đái tháo đường cần đặc biệt chú trọng đến việc ăn uống.

Người đái tháo đường không nên ăn sinh tố hoa quả

Để kiểm soát tốt glucose máu, giảm thiểu các biến chứng của bệnh đái tháo đường, ngoài việc phải kiểm soát cân nặng, vận động thể lực thường xuyên và theo dõi diễn biến glucose trong máu, người bị bệnh này cần có một chế độ ăn sử dụng các loại thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp (GI).

Theo đó, những thực phẩm mà người đái tháo đường nên dùng là hoa quả gồm: xoài, mận, chuối, táo, anh đào, nho và nước táo không đường. Nhóm rau củ gồm: khoai lang, cà rốt, khoai sọ, củ từ và sắn.

Người đái tháo đường không nên ăn nhiều đường ngọt, tinh bột vì những chất này dễ làm tăng glucose máu; không nên ăn các loại bánh kẹo ngọt, chocolate, quả ngọt khô, quả ngọt ngâm đường, mứt hoa quả, các loại nước uống có đường mật, nước uống đóng lon, chai sẵn.

Người bị đái tháo đường có thể ăn hoa quả chín (80-100g/lần x 2-3 lần/ngày), nhưng phải giảm lượng cơm đi. Khi ăn quả chín nên ăn ở dạng miếng, không nên ăn ở dạng xay sinh tố vì làm cho đường hấp thụ nhanh hơn.

Các bệnh về thận không nên ăn chuối tiêu


Với những người bị suy thận, viêm cầu thận nếu xét nghiệm có kali trong máu cao, thì không nên ăn chuối tiêu và các loại rau quả nói chung vì các loại thực phẩm này chứa nhiều muối kali. Nếu ăn nhiều chuối tiêu, nhiều rau quả sẽ làm nồng độ kali trong máu tăng, dẫn đến tình trạng bệnh càng nặng hơn. Theo bảng thành phần dinh dưỡng Việt Nam năm 2000, hàm lượng kali (trong 100g thực phẩm ăn được) của đậu tương (đậu nành) có nồng độ cao nhất. Tiếp theo, hàm lượng kali có trong thực phẩm theo chiều giảm dần gồm đậu xanh, sầu riêng, lá lốt, cùi dừa già, cá ngừ, vừng, rau khoai lang, măng chua, cá thu, rau dền đỏ, rau ngót, khoai sọ, gan lợn, lạc, rau đay, củ cải, cá chép, khoai tây, rau mồng tơi, rau bí, bầu dục lợn, thịt bò, bí ngô.Vì vậy, người bị suy thận, viêm cầu thận có kali trong máu cao nên chiểu theo bảng thành phần dinh dưỡng này để lựa chọn loại thức ăn an toàn cho sức khoẻ.

Người bị tăng huyết áp nên ăn nhạt

Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy, người dân vùng bắc Nhật Bản trước đây có tập quán ăn rất mặn; trung bình từ 25-30g muối / người / ngày có tỷ lệ tăng huyết áp đến 40%, ngược lại ở miền nam Nhật Bản, người dân chỉ ăn khoảng 10g muối/ngày, thì tỷ lệ tăng huyết áp chỉ khoảng 20%.

Người dân Eskimoo và vài bộ lạc ở châu Phi ăn rất ít muối, thì hầu như không có người bị tăng huyết áp. Ở Việt Nam, kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng cho thấy ở Nghệ An, Thừa Thiên Huế, người dân trung bình ăn 13-14g muối/ngày, thì tỷ lệ tăng huyết áp gần 18%, nhưng ở Hà Nội tỷ lệ này chỉ có gần 11% vì người Hà Nội ăn trung bình 9g muối/ngày.

Như vậy, một chế độ ăn điều trị tăng huyết áp là chế độ ăn nhạt, giàu rau và quả. Những thực phẩm mà người tăng huyết áp nên hạn chế ăn là: tất cả các loại thịt gia cầm đóng hộp, hun khói, sấy khô và muối; các loại cá hun khói, đóng hộp, patê cá và các món ăn từ cá chế biến sẵn; các sản phẩm chế biến từ sữa như phomát, bơ và các loại mắm dạng đóng chai, viên súp, thức ăn phụ, mì ăn liền, bánh mặn.

Người mỡ máu cao không nên ăn nội tạng động vật

Phủ tạng động vật rất nguy hiểm đối với những người mắc chứng bệnh mỡ máu cao, người thừa cân-béo phì, vì thực phẩm này có chứa rất nhiều cholesterol.

Cholesterol là chất gây nên tình trạng rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch, hoặc nhồi máu cơ tim. Hàm lượng cholesterol trong 100g thực phẩm ăn được nhiều nhất là lòng đỏ trứng gà; tiếp theo là trứng gà (cả lòng trắng, lòng đỏ), gan gà, phomát, bầu dục lợn, gan lợn, bơ, tôm đồng, tim lợn, dạ dày bò, thịt vịt, thịt ngựa, cá chép, mỡ lợn, thịt bò hộp, cá trích hộp. Hàm lượng cholesterol thấp nhất có ở kẹo cam chanh, sữa chua và sữa bò tươi.

Theo Sức Khoẻ & Đời Sống

Quả chuối – 20 lý do để lựa chọn ăn mỗi ngày

Posted in Các loại hoa quả with tags , , on 02/08/2009 by dichovui

Loại quả nào cũng rất nhiều vitamin và chất khoáng cần thiết cho cơ thể nhưng tại sao bạn nên ăn chuối mỗi ngày?

1. Khỏe não

Trong chuối có nhiều kali sẽ giúp trí não họat động nhạy bén và linh hoạt.

2. Nhuận tràng

Chuối giàu chất xơ vì thế có tác dụng nhuận tràng, tránh táo bón.

3. Bình tĩnh

Chuối có lượng vitamin B cao nên có giúp giữ bình tĩnh rất tốt.

4. Giảm bệnh thiếu máu

Chuối có nhiều chất sắt vì thế giúp giảm bệnh thiếu máu bằng cách kích thích sản sinh ra hemoglobin.

5. Tốt cho dạ dày

Làm hỗn hợp chuối, sữa và mật ong. Chuối giúp bình ổn dạ dày và giữ lượng đường trong máu ổn định dưới tác dụng của mật ong.

6. Vui vẻ

Trong chuối có chứa tryptopan mà cơ thể chuyển đổi thành serotonin. Ăn chuối giúp bạn cảm thấy vui vẻ, thư giãn và có tâm trạng tốt hơn.

7. Giàu vitamin và chất khoáng

Chuối chứa nhiều vitamin B6, B12, kali, magiê…

8. Giảm nguy cơ đột quỵ

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ăn chuối đều hàng ngày giảm 50% nguy cơ bị đột quỵ.

9. Giảm khó chịu buổi sáng với những người đang mang thai

Ăn chuối giúp các bà mẹ đang mang thai giảm những triệu chứng khó chịu vào buổi sáng khi ngủ dậy.

10. Tâm trạng tốt

Điều chỉnh mức độ đường trong máu góp phần mang lại một tâm trạng tốt.

11. Huyết áp tốt hơn

Chuối giàu kali và có lượng muối thấp nên là loại quả rất tốt giúp huyết áp ở trạng thái ổn định.

12. Giảm chứng ợ nóng

Chuối có tác dụng giảm độ axit trong dạ dày nên giảm chứng ợ nóng.

13. Giảm sưng phồng khi bị muỗi đốt

Rất nhiều người dùng phần bên trong của quả chuối xoa lên những vùng bị muỗi đốt để giảm ngứa và sưng.

14. Giảm stress

Kali là một chất khoáng rất cần thiết giúp bình ổn chứng ợ nóng, đưa ôxy lên não và điều chỉnh lượng nước cân bằng trong cơ thể.
Cơ thể bị stress khi mức độ kali thấp vì thế ăn chuối giúp tăng lượng kali và giảm stress.

15. Loại bỏ hột cơm, mụn cóc trên da

Lấy phần bên trong của vỏ quả chuối đắp lên vùng da có hột cơm rồi quấn quanh bằng dải vải. Đây là một cách để loại bỏ hột cơm, mụn cóc trên da.

16. Trị ung nhọt,chỗ loét trong dạ dày

Chuối mềm là loại hoa quả giúp giảm axit tại những chỗ loét trong thành dạ dày.

17. Giảm thèm ăn

Ăn chuối giúp giảm cảm giác thèm ăn và điều chỉnh lượng đường trong máu.

18. “Hạ hỏa”

Chuối được xem như loại quả có tác dụng “hạ hỏa” với những người nóng tính.

19. Làm sạch giầy

Làm sạch giầy của bạn bằng phần bên trong quả chuối để có màu sáng bóng.

20. Ngon miệng

Chuối là loại quả ngon, rẻ và bổ (cung cấp nhiều vitamin và chất khoáng cho cơ thể).

Cam tươi- nguồn vitamin C và Canxi tuyệt vời

Posted in Các loại hoa quả on 02/08/2009 by dichovui

Cam tươi nổi tiếng với lượng vitamin C dồi dào giúp thúc đẩy quá trình giải độc của cơ thể

Cam tươi nổi tiếng với lượng vitamin C dồi dào giúp thúc đẩy quá trình giải độc của cơ thể. Vitamin C còn có thể chống lại chứng loãng xương. Theo nghiên cứu, hàm lượng khoáng chất trong quả cam có thể ngăn chặn sự phát triển bệnh ung thư ruột kết. Thậm chí, vỏ cam cũng chứa chất chống ung thư da. Việc uống nước cam ép hằng ngày còn giúp phòng chống ung thư vú và ung thư phổi vì cam rất dồi dào hợp chất gọi là citrus limonoid. Một quả cam nhỏ chứa rất nhiều folic acid, potassium, và thiamin. Nó chứa khoảng 50mg vitamin C-đáp ứng 2/3 nhu cầu mỗi ngày của chúng ta.

Ngoài ra, nước cam ép làm tại nhà cung cấp cho bạn nguồn Canxi giúp xương chắc khỏe.

Để làm nước cam ép mà vẫn giữ được hương vị thơm ngon và dinh dưỡng, bạn cần lưu ý:

• Chọn những quả cam da bóng, không nhăn hay có vết mốc
• Chọn quả nặng, phần cuống nhỏ là những quả mọng nước.
• Dùng bao nilon bọc kỹ khi bảo quản cam trong tủ lạnh.
• Dùng tay vừa nén vừa lăn tròn quả cam trước khi vắt giúp vắt cam dễ hơn và được nhiều nước hơn.
• Cho cam vào lò vi sóng trong vài giây cũng là cách tốt để làm mềm cam trước khi vắt.
• Nước cam vắt có thể bảo quản trong tủ lạnh từ 1-2 tuần.

Không phải ngẫu nhiên mà dân gian từng xem quả cam là một loại thần dược cho những ai đang hồi phục sức khoẻ và quan tâm đến nhan sắc. Cây cam từ lá cho đến hoa, quả, vỏ quả… đều là những vị thuốc được Đông y coi trọng.

Tuy nhiên, loại quả được nhiều người “sủng ái” này cũng có phần “hướng dẫn sử dụng trước khi dùng”.

Chọn giờ “vàng” ăn cam

Một cốc nước cam sau mỗi bữa sáng sẽ mang lại tinh thần phấn chấn để bắt đầu một ngày mới. Có câu: nước cam uống buổi sáng là vàng, buổi chiều là đồng, buối tối là chì. Thời điểm cơ thể hấp thu tốt nhất các canxi và các vitamin trong quả cam chính là vào buối sáng. Ăn uống cam vào tối muộn, đặc biệt lại sát lúc ngủ không những ít hấp thụ được mà còn gây mất ngủ.

Đừng coi thường vỏ cam

Cam nói riêng và các loại quả giàu vitamin C nói chung rất tốt cho thai sản phụ, bệnh nhân có nhu cầu chống bội nhiễm, dự phòng ung thư, kháng dị ứng… Người nghiện thuốc lá, bệnh nhân trong giai đoạn hồi phục, công nhân lao động nặng cần được bổ sung khoảng 200mg vitamin C mỗi ngày.

Bên cạnh lượng vitamin C dồi dào của trái cam, người ta ít nhắc đến lượng canxi quý giá trong cam. Và vỏ cam chính là nơi tập trung canxi. Chính vì vậy, không nên gọt vỏ khi vắt cam. 1 miếng vỏ cam thả vào cốc nước vừa bổ sung canxi vừa tăng hương vị đặc trưng (tất nhiên với điều kiện bạn yên tâm đây là loại quả sạch, không hoá chất).

Nên vắt cam bằng tay

Khi pha nước cam, nên vắt cam bằng tay và tận dụng cả tép cam để lấy chất xơ. Ăn một quả cam có thể sánh với việc uống nước từ 2-3 quả cam.

Cẩn thận với lượng axit trong cam

– Không nên ăn, uống cam vào lúc đói vì lượng axit trong loại quả này có thể ảnh hưởng đến dạ dày.

– Trẻ em và người đau dạ dày không nên uống nước cam nguyên chất, nên pha cùng với nước.

– Nước cam và sữa nên uống cách nhau khoảng 45 phút, để cơ thể hấp thụ và tránh tương tác giữa các chất trong cam và sữa.

– Người bệnh đang dùng thuốc kháng sinh nên tham khảo ý kiến bác sĩ về lượng cam dùng hàng ngày để có thể yên tâm vừa uống thuốc vừa ăn cam mà không lo cam rã thuốc.

Trọng lượng Thực phẩm Lượng vitamin C
100g Bắp cải 45mg
100g Cải broccoli 110mg
100g Ớt bị 140mg
100g Cam 50mg
100g Bưởi 60mg
100g Dâu tây 60mg
100g Đu đủ 120mg
100g Dưa hấu 60mg
100g Khoai tây 40mg
100g Măng tây 50mg
100g Cà chua 80mg
100g Ngò 150mg
100g Kiwi 100mg
100g Ổi 90mg
100g Xoài 50mg

Quả bơ – món ngon cho bé

Posted in Các loại hoa quả with tags , , on 02/08/2009 by dichovui

Người ta gọi quả bơ là thức ăn hoàn hảo từ thiên nhiên vì nó được cho là chứa mọi dưỡng chất cần thiết cho sự sống của con người.

Món ăn “béo tự nhiên” này rất tốt cho trí não và sự phát triển thể chất của bé.

Thời điểm bé có thể ăn bơ

Bé có thể ăn ngay khi bắt đầu ăn dặm, khoảng từ tháng thứ 4 đến tháng thứ 6. Sau khi nghiền, quả bơ rất mềm và mịn, do đó dễ được bé chấp nhận khi bắt đầu ăn dặm.

Lợi ích

Một quả bơ cỡ trung bình chứa khoảng 700 calorie và 30 gram chất béo. Và

Hàm lượng vitamin

Hàm lượng các loại khoáng chất

Vitamin A 1230IU Kali 1204mg
Vitamin C 15.9mg Phốt-pho 82.4mg
Vitamin B1 0.2mg Magiê 78.4mg
Vitamin B2 0.25mg Canxi 22mg
Niacin 3.9mg Natri 20mg
Folate 124.6mg Sắt 2mg
Vitamin B5 1.95mg
Vitamin B6 0.56mg
Một số loại vitamin khác với lượng nhỏ. Lượng nhỏ se-len, mangan, đồng, kẽm.

Chất béo trong bơ

Quả bơ chứa nhiều chất béo và cung cấp nhiếu năng lượng, do đó chúng ta được khuyên không nên ăn bơ.

Tuy nhiên, quả bơ mang lại nhiều lợi ích hơn là nguy cơ.

– Chất béo trong quả bơ chứa không nhiều cholesterol, giúp duy trì tim khỏe mạnh.

– Đồng thời, quả bơ chứa nhiều chất xơ giúp giảm nguy cơ ung thư và đau tim.

Cách chọn, ăn và bảo quản bơ ngon

– Bơ ngon là bơ có vỏ màu xanh sậm, vỏ sần sùi; ấn nhẹ thấy chắc nhưng không cứng. Khi cắt ra thấy màu xanh lá cây, ngả vàng dần về phía hột bơ.

– Quả bơ được ăn tươi, không nấu. Trước khi cắt, vo nhẹ quả bơ để thịt bơ tách rời khỏi vỏ.

Bơ có thể được cắt ra thành nhiều miếng rồi để vào tủ lạnh. Khi dùng lấy từng miếng ra rồi nghiền nhuyễn. Như vậy miếng bơ ít bị đổi màu hơn khi xay.

Thức ăn chế biến được với quả bơ

Quả bơ có thể được nghiền chung với nước táo, quả đào, lê, chuối, yaourt làm thành các món ngon khác để bé ăn bữa chính hoặc ăn chơi. Một vài món ăn làm từ quả bơ để bạn tham khảo:

Bơ nghiền: Bơ chín (1 quả): Cắt bơ, bỏ hột, nạo lấy thịt bơ rồi nghiền nhuyễn bằng thìa. Không cần xay, vì bơ rất mềm, dễ nghiền. Không nấu quả bơ.

Bơ nghiền với chuối: Bơ chín (1 quả): Cắt bơ, bỏ hột, nạo lấy thịt bơ rồi nghiền nhuyễn bằng thìa. Chuối (1 quả): Lột vỏ và nghiền nhuyễn. Cho tất cả vào máy xay, xay nhuyễn. Không cần nấu.

Salad bơ và quả hỗn hợp: (từ 8 tháng trở lên) 3 hoặc 4 quả bơ chín; 3 hoặc 4 quả chuối chín; 3 hoặc 4 quả lê (hấp chín); Vài thìa yaourt

Cách làm: Lột vỏ, bỏ hột và cắt các loại quả khác thành từng miếng. Cho vào máy xay, xay nhuyễn. Nếu thích thì cho thêm vài thìa yaourt.

Quả nho – viên ngọc trong suốt

Posted in Các loại hoa quả with tags , , on 02/08/2009 by dichovui

Quả nho vỏ mỏng, nhiều nước, vị chua ngọt, nhiều chất bổ. Nho có nhiều loại: đỏ, trắng, xanh, hoa hồng, sữa… Ngoài quả ra, rễ nho, lá nho cũng đều là những vị thuốc. “Thần nông bản thảo kinh”, cuốn sách y học cổ xưa nhất của Trung Quốc, từng giới thiệu về công hiệu làm thuốc của nho: “Nho ích khí, tăng lực, cường trí, làm cho người béo khỏe, chịu đựng được đói khát, phong hàn. Ăn lâu ngày, người sẽ thấy nhẹ nhàng, thoải mái, trẻ mãi không già”.

Các cuốn sách nổi tiếng như “Danh y biệt lục”, “Dược tính luận”, “Bản thảo cương mục”, “Tùy tức cư ẩm thực phả”… đều giới thiệu tác dụng tẩm bổ, kéo dài tuổi thọ của nho. Y học hiện đại đã chứng minh, trong quả nho có đường glucose, glucoza, đường xacaro, đường mộc, các axit, protein, canxi, phốt pho, sắt, caroten, các vitamin B1, B2, C, P…
Nước nho ép, rượu nho đều có tác dụng diệt virus, chữa thấp khớp, đái buốt. Nho khô có tác dụng kiện tỳ, ích khí, là loại thuốc bổ, người bị suy nhược ăn thường xuyên rất tốt. Việc uống chút ít rượu nho có công hiệu điều trị nhất định đối với người bị viêm dạ dày mạn tính. Lá nho có tác dụng hạ lipid máu; cành nho có tác dụng tiêu viêm, mát máu; rễ nho có thể dùng để điều trị chứng nôn mửa ở phụ nữ mang thai, giúp an thai, cầm máu, tiêu thũng, lợi tiểu và hỗ trợ cho điều trị ung thư ở thực quản, ung thư vú, u tuyến bạch lympha.

Do lượng đường trong nho khá cao nên người bị táo bón không nên ăn nhiều.

Một số bài thuốc chữa bệnh bằng nho

– Đái ra máu: Rễ nho, đường trắng mỗi loại 15 gam, sắc uống.

– Viêm dạ dày mạn tính: Rượu vang nho mỗi ngày uống 15 ml, chia 2-3 lần.

– Chán ăn: Nho khô mỗi lần dùng 9 gam, nhai ăn trước bữa cơm, ngày 3 lần.

– Chữa nôn: Nước nho 1 chén nhỏ, thêm ít gừng, khuấy đều uống.

– Trừ phiền, giảm khát: Nước nho, nước ngó sen lượng bằng nhau, hòa đều uống.

– Cao huyết áp: Nước nho, nước rau cần mỗi thứ một chén nhỏ, hòa nước sôi uống, mỗi ngày 2 lần.

– Phù thũng khi có thai: Rễ nho 30 gam, sắc uống.

– Mỡ máu cao: Lá nho, sơn tra, hà thủ ô mỗi loại 10 gam, sắc uống.

Chất bổ từ quả nho


Tăng cường sức đề kháng, chống lão hóa, tốt cho tim mạch, có tác dụng thải độc tố… từ lâu nho đã được chứng minh là một loại quả chứa nhiều chất bổ có lợi cho sức khỏe. Vì vậy, bạn hãy đưa nho vào bữa tráng miệng hàng ngày.

Tăng cường sức đề kháng

Cứ 100g thịt quả nho sẽ cho 71 calo, 10 – 12g đường dễ hấp thụ, 11mg vitamin C (18% nhu cầu hàng ngày). Nếu chỉ nhằm cung cấp sinh tố C từ nho thì mỗi ngày phải ăn khoảng 500g. Thịt quả nho ăn dễ tiêu, giải khát, thông tiểu và lợi mật. Trong quả nho có chứa polyphenol có tác dụng chống oxy hóa, bảo vệ các tế bào và các nguyên sinh chất trong cơ thể, chống lại sự hình thành các gốc tự do.

Vì vậy ăn nho giúp con người trẻ lâu, làm giảm nếp nhăn, tăng sức đề kháng, chống lại sự xâm nhập của các loại virus. Ngoài ra trong quả nho còn chứa nhiều đường gluco và fructose dễ hấp thụ, các vitamin và khoáng chất có tác dụng tăng sức đề kháng cho cơ thể.

Hạt nho – xin chớ bỏ!

Trong lớp vỏ mỏng của hạt nho, người ta tìm thấy các chất resveratrol có cấu trúc hóa học tương đồng với hormone estrogen ở người. Chúng có tác dụng làm giảm cholesterol, bảo vệ thành mạch máu trong cơ thể. Điều này giải thích tại sao uống rượu vang đỏ lại có tác dụng tốt cho tim mạch. Trong cao làm từ hạt nho có chứa chất proantho-cyanidin, là chất chống oxy hóa có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của nhiều bệnh nan y, chống xơ vữa động mạch và quá trình lão hóa sớm.

Khả năng loại trừ các gốc tự do của chất này lớn hơn nhiều so với vitamin C và E. Tác dụng của chất proantho-cynidin đã được thử trên tế bào ung thư vú, dạ dày, phổi và bạch cầu ở người, cho kết quả tốt. Các dòng ung thư đều bị ức chế và hoạt động của các tế bào khỏe mạnh được đẩy mạnh. Mức độ tác dụng tùy thuộc vào nồng độ sử dụng và thời gian ủ cao hạt nho. Chất này còn phòng được bệnh do virus gây ra, kháng virus herpes, bại liệt.

Hạt nho còn được ép lấy dầu, chứa nhiều axít linoleic, có tác dụng giảm chứng bất lực ở nam giới và hạn chế nguy cơ về bệnh tim mạch nếu dùng hàng ngày. Dầu này còn có khả năng giảm kết vón tiểu cầu (gây máu đông cục, làm tắc nghẽn thành mạch). Ngoài ra, nó còn có tác dụng phòng chống chứng tăng huyết áp (do ăn nhiều muối), hàn gắn vết thương do tiểu đường và béo phì gây ra.

Vỏ không phải là bã

Trong vỏ quả nho chứa nhiều chất có khả năng kháng khuẩn. Qua phương pháp đồng vị phóng xạ, người ta thấy chất này không bị phá hủy bởi dịch tiêu hóa nên có thể tuần hoàn khắp cơ thể và cho tác dụng toàn thân rất tốt. Vỏ nho chứa nhiều resveratrol hơn trong thịt quả nho. Chất này có khả năng chống oxy hóa mạnh gấp 7 lần vitamin E. Vì vậy khi ăn nho ta nên ăn cả vỏ. Tất nhiên trước khi ăn, nho cần được ngâm rửa kỹ.

nho.jpg


Nước ép từ nho

Uống 1 ly nước ép nguyên chất từ quả nho đỏ hay tím sẫm rất tốt cho chức năng tim. Nước ép nho đỏ có ảnh hưởng trực tiếp lên phản ứng đông máu, vừa làm tăng nồng độ các chất kháng oxy hóa và giảm các gốc tự do trong hệ tim mạch.

So với nước ép bưởi, cam, cà chua và táo, nước ép nho đỏ có hoạt tính kháng oxy hóa mạnh gấp 3 lần. Người ta phân tích các chất có trong thành phần nước ép này và thấy nó cũng chứa những hoạt chất được tìm thấy trong trái tắc (quất), có hiệu quả phòng tránh các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu.

Tác dụng thải độc

Đặc biệt, nho còn có tác dụng đào thải chất độc trong cơ thể. Nho giúp gan quét đi lượng độc tố có hại trong cơ thể, đồng thời có ích cho quá trình tái tạo máu. Lượng nước, kali cao (có tác dụng lợi tiểu), giàu chất xơ (thúc đẩy quá trình tiêu hóa) làm tăng khả năng thải độc của loại quả giàu dinh dưỡng này.

Vì vậy, nếu có điều kiện, mỗi tuần bạn nên ăn nho một lần để làm sạch cơ thể. Nho là loại quả giàu năng lượng nên rất tốt cho trẻ em, thanh thiếu niên, người chơi thể thao – những người cần nhiều năng lượng.